Thứ Ba, 20 tháng 2, 2018

Chính khách GS Phan Huy Lê

I. Xuất thân

Phan Huy Lê sinh ngày 23 tháng 2 năm 1934 tại xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là hậu duệ cùng họ với Thượng thư, nhà ngoại giao Phan Huy Ích, nhà bác học Phan Huy Chú, Thượng thư – nhà văn hóa Phan Huy Vịnh (1).


Bố ông là Phan Huy Tùng (1878- ?) (đỗ Hội nguyên và Tam giáp đồng tiến sĩ khoa Quý Sửu – năm 1913), Lang trung Bộ Hình triều Nguyễn. Anh cả của ông là cựu thủ tướng của chế độ Việt Nam Cộng hòa Phan Huy Quát. Mẹ ông là người dòng họ Cao Xuân giàu truyền thống khoa bảng với các danh nhân như Cao Xuân Dục, Cao Xuân Tiếu, Cao Xuân Huy.



II. Quá trình công tác trong Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nôi, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội



1. Sơ lược về Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nôi và Đại học Quốc gia Hà Nội

Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nôi (gọi tắt là “trường Nhân văn”) là một ngôi trường quan trọng trong hệ thống đào tạo của ngành tuyên giáo Việt Nam. Trong khi đó, Đại học Quốc gia Hà Nội, mà trường Nhân văn trực thuộc, lại có quan hệ gắn bó với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), cơ quan cho ra đời Viện IDS và NXB Tri thức.

Năm 1945, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thành lập Đại học Quốc gia Việt Nam tại trụ sở cũ của Đại học Đông Dương (số 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội). Trường này bao gồm 5 ban, là Y khoa, Khoa học, Văn khoa, Chính trị Xã hội, Mỹ thuật. Trong đó, Văn khoa do ông Đặng Thai Mai đứng đầu, và  bao gồm bốn chuyên khoa, là Triết lý, Việt học, Hán học, Sử ký – Địa dư học. Sau này, trường Nhân văn tự nhận mình là hậu duệ của Văn khoa thuộc Đại học Quốc gia Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi Pháp chiếm được Hà Nội vào năm 1946, Đại học Quốc gia Việt Nam dừng hoạt động, và các nguồn lực của trường được phân thành nhiều cơ sở đào tạo nhỏ.

Năm 1950, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Mao Trạch Đông chính thức công nhận và viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 14 tháng 5 năm 1950, Ban Tuyên truyền Trung ương và Ban Giáo dục Trung ương được thành lập, để thay thế cho Ban Tuyên truyền Cổ động Trung ương tồn tại từ sau Cách mạng Tháng 8. Ngày 16 tháng 4 năm 1951, Trung ương Đảng ra Nghị quyết thành lập Ban Tuyên huấn Trung ương. Năm 1953, Ban Tuyên huấn thành lập một cơ quan trực thuộc, là Ban Nghiên cứu Văn – Sử – Địa. Cơ quan ngôn luận của ban này là Tập san Văn – Sử – Địa. Trong nhiều năm sau đó, tập san này và Tập san Đại học Sư phạm là hai tờ báo chuyên ngành quan trọng nhất của giới nghiên cứu và cán bộ giảng dạy các ngành khoa học xã hội ở Việt Nam. Về sau, Ban Nghiên cứu Văn – Sử – Địa phát triển thành Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Thông qua việc kiểm soát con đường thăng tiến của giới nghiên cứu trong ngành khoa học và xã hội ở Việt Nam, viện này và các viện liên quan giữ cho họ không đi sai định hướng của Ban Tuyên giáo.

Năm 1956, khi ngành tuyên giáo Việt Nam đang nằm dưới quyền ông Tố Hữu, Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập dựa trên việc hợp nhất 4 trường tiền thân, gồm Đại học Khoa học, Đại học Văn khoa, Đại học Khoa học cơ bản, và Dự bị Đại học Liên khu IV (nơi ông Phan Huy Lê đang theo học).  Nhà Vật lý Ngụy Như Kon Tum, người sau này giữ chức Chủ tịch VUSTA, đã trở thành hiệu trưởng đầu tiên của trường Tổng hợp, và giữ vị trí này cho đến khi về hưu (2).

Năm 1993, Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký quyết định thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) dựa trên việc sáp nhập 3 trường, là Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I và Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội. Nhà Vật lý Nguyễn Văn Đạo, trước đó giữ chức Tổng Thư ký Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam (mà nhà Vật lý Chu Hảo tham gia sáng lập), trở thành hiệu trưởng đầu tiên của Đại học Quốc gia Hà Nội. Một năm sau, ông Võ Văn Kiệt tiếp tục ký quyết định giao cho Đại học Quốc gia Hà Nội một khu đất rộng 1000 ha ở khu Hòa Lạc, gần chân núi Ba Vì. Năm 1996, khi ông Chu Hảo làm Thứ trưởng Bộ Khoa học & Công nghệ kiêm Giám đốc Dự án Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, các nhà qui hoạch dự tính rằng khu Hòa Lạc sẽ trở thành thung lũng Silicon, trong khi ĐHQGHN trở thành đại học Stanford của Việt Nam. Về sau, trong khu Hòa Lạc cũng mọc lên trụ sở của trường Đại học FPT, thuộc tập đoàn FPT của ông Trương Gia Bình. Ông Bình vốn là một nhà Vật lý trong Viện Nghiên cứu Công nghệ Quốc gia mà ông Chu Hảo tham gia thành lập, và tập đoàn FPT vốn là một công ty được thành lập bởi viện đó (3). Trong khi đó, ông Trương Gia Bình là Chủ nhiệm Khoa Quản trị Kinh doanh của ĐHQGHN trong nhiều năm kể từ sau khi khoa này thành lập, và ông Nguyễn Văn Đạo cũng là một đồng sáng lập viên của Đại học FPT. Về sau, NXB Tri thức của ông Chu Hảo (có trụ sở nằm trong khuôn viên của VUSTA) cũng thường xuyên cộng tác với ĐHQGHN để tổ chức các sinh hoạt văn hóa – học thuật.

Không lâu sau ngày thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 1995, trường Nhân văn chính thức thành lập, trở thành đơn vị độc lập đầu tiên nằm trong ĐHQGHN. Hiệu trưởng đầu tiên của trường là ông Phùng Hữu Phú, người từng giữ chức Bí thư Đảng ủy và Chủ nhiệm Khoa Lịch sử của Đại học Tổng hợp Hà Nội suốt nhiều năm trước đó. Sau này, ông Phú cũng giữ chức Trưởng Ban Tuyên giáo kiêm Trưởng Ban Đại học Thành ủy Hà Nội (1998 – 2001), Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Hà Nội (2001 – 2006), Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo ĐCSVN (2006 – 2011), và Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương ĐCSVN kiêm Chủ nhiệm đầu tiên của khoa Khoa học Chính trị thuộc trường Nhân văn Hà Nội (từ 2011).

Ông Nguyễn Phú Trọng, người giữ chức Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam trong hai nhiệm kỳ, cũng học khoa Văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội từ năm 1963. Ông Trọng đã trải qua một số chức vụ gần tương tự ông Phùng Hữu Phú: Phó Bí thư phụ trách Tuyên giáo kiêm Trưởng Ban Đại học Thành ủy Hà Nội, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương ĐCSVN, và hiệu phó trường Nhân văn. Về sau, ông Trọng cũng giữ nhiều chức vụ quan trọng khác trong Thành ủy Hà Nội và ngành tuyên giáo.



2. Tóm tắt sự nghiệp

Năm 1952, năm 18 tuổi, Phan Huy lê học Dự bị Đại học ở Thanh Hóa. Khi trả lời phỏng vấn vào năm 2016, Lê cho biết ban đầu ông có nguyện vọng học ban Toán – Lý, nhưng vì nhập học muộn nên phải vào ban Văn – Sử (5).

Năm 1956, ông tốt nghiệp cử nhân Sử- Địa trường Đại học sư phạm Hà Nội, sau đó ông được nhận chức danh Trợ lý giảng dạy Bộ môn Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Khoa Lịch sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Trong giai đoạn này, ông được giáo sư Đào Duy Anh hướng dẫn.

Năm 1958, ông là chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Việt Nam cổ trung đại khi mới 24 tuổi.

Từ năm 1988 đến năm 2015, ông liên tục giữ chức Chủ tịch hội Sử học Việt Nam. Sau đó, ông tiếp tục giữ chức Chủ tịch Danh dự của hội này đến thời điểm hiện tại (2018).

Năm 1988, ông sáng lập Trung tâm Trung tâm hợp tác nghiên cứu Việt Nam (thuộc Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội), tiền thân của Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu văn hóa, sau này là Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển (4).

Năm 1995, ông sáng lập Khoa Đông phương học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Từ năm 2004 đến năm 2009, ông giữ chức Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo cho Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu văn hóa đã phát triển thành Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển.



3. Sự nghiệp nghiên cứu

Các tác phẩm đầu tiên trong sự nghiệp nghiên cứu của Phan Huy Lê chủ yếu xoay quanh đời sống nông dân, làng xã, chế độ ruộng đất và cấu trúc kinh tế nông thôn Việt Nam trong lịch sử. Trong số này, có thể kể đến “Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ”, “Đặc điểm của phong trào nông dân Tây Sơn” và “Lao động và làm thuê trong xã hội phong kiến Việt Nam”, cả ba công trình đều hoàn thành năm 1959. Đây cũng là mảng đề tài nghiên cứu mà ông Lê quan tâm một cách thường trực trong suốt sự nghiệp của mình, và trở lại với nó mỗi khi có cơ hội. Mảng này chiếm 51/408, tức 12,5% số công trình nghiên cứu của ông Lê. Ngoài ra, trong giới sử học Việt Nam, ông được xem là người đi tiên phong trong việc khai thác các nguồn tư liệu địa phương, như địa bạ, châu bản, gia phả… để phục vụ cho việc nghiên cứu.

Khi chiến tranh chống Mỹ bắt đầu, ông Lê chuyển sang nghiên cứu về “các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm”, có lẽ do được chỉ đạo. Ông theo đuổi mảng đề tài này đến tận năm 1989, tức thời điểm trước Hội nghị Thành Đô để bình thường hóa quan hệ Việt – Trung, chấm dứt cuộc xung đột vũ trang dai dẳng giữa hai nước. Những công trình tiêu biểu của ông trong mảng này bao gồm “Những công trình Khởi nghĩa Lam Sơn” (1965), “Truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam” (1973), “Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc” (1976), “Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 và 1288” (1988)… Mảng đề tài này chiếm 50/408, tức 12,2% tổng số công trình nghiên cứu của ông Lê.

Từ giữa thập niên 1970, sau khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc, ông Lê chuyển sang một mảng đề tài mới, là “văn hóa truyền thống”. Mảng này chiếm 64/408, tức 15,72% tổng số công trình nghiên cứu của ông Lê. Các công trình quan trọng của ông trong mảng này bao gồm “Truyền thống và cách mạng” (1982), “Vấn đề dân chủ trong truyền thống Việt Nam” (1988), “Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay” (3 tập, 1994, 1996, 1997), “Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, truyền thống và hiện đại” (2002), và một loạt bài viết về khu Hoàng thành Thăng Long…

Khi nói về sự nghiệp nghiên cứu và sự nghiệp chính trị của Phan Huy Lê, cần nhấn mạnh rằng trong toàn bộ cuộc đời nghiên cứu của mình, ông Lê luôn là người được giao “tổng kết lịch sử đất nước” (1), nghĩa là viết bộ sử chính thống cho chính quyền Việt Nam. Ông giữ vai trò này ngay từ năm 1959 – khi ông mới 25 tuổi, mới vào nghề được 3 năm, và vừa bắt tay vào viết những trang bản thảo đầu tiên – cho đến tận thời điểm hiện tại (2018), khi ông đã 84 tuổi. Cụ thể, năm 1959, ông viết một tập bài giảng “Lịch sử Việt Nam từ 1406 đến 1858”. Liên tiếp 2 năm sau, ông cho ra mắt “Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam tập II” (1960) và “Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam tập III “(1961). Năm 1971, ông cùng Trần Quốc Vượng viết “Lịch sử Việt Nam tập I”, được coi là cuốn thông sử đầu tiên của chế độ mới. Trong thời gian này, Lê cũng viết một loạt các bài giảng, giáo trình khác về lịch sử Việt Nam (vào các năm 1966, 1970, 1978…), để gộp thành cuốn “Lịch sử Việt Nam tập I” (1983), bao gồm lịch sử Việt Nam từ thời nguyên thủy đến thế kỷ X. Mới đây, trong đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước để xây dựng bộ sách “Lịch sử Việt Nam” gồm 4 tập, ông Phan Huy Lê vừa là chủ biên, vừa là tác giả chính của 2 tập I và II, thuật lại lịch sử Việt Nam từ thời khởi thủy cho đến giữa thế kỷ XIX. Ngoài ra, ông Lê cũng viết các cuốn lịch sử chính thức của nhiều địa phương ở Việt Nam.



4. Việc thành lập khoa Đông phương học

Ông Phan Huy Lê chính thức thành lập khoa Đông phương học ở đại học Nhân văn vào năm 1995, năm thành lập trường này. Tuy nhiên, theo bài giới thiệu về lịch sử của khoa trên website của trường Nhân văn (6), thì khoa Đông phương học đã bắt đầu hoạt động trên thực tế từ năm 1993. Vào thời điểm hiện nay (2018), khoa đã có 5 chuyên ngành con, là Trung Quốc học, Nhật Bản học, Korea học, Ấn Độ học và Đông Nam Á học. Sau trường Nhân văn Hà Nội, một số trường đại học khác ở Việt Nam cũng thành lập khoa Đông phương học, với nội dung giảng dạy tương tự.

Về việc ông Lê mở khoa Đông phương học ở trường Nhân văn, có một điểm cần lưu ý. Khái niệm “Đông phương học” (ngành nghiên cứu về phương Đông) đã có từ thời Hy Lạp cổ đại, và được dùng để chỉ các nghiên cứu của người châu Âu về văn hóa Trung Đông. Lý do là trong mắt châu Âu vào thời điểm đó, “phương Đông” chỉ bao gồm các nước trong khu vực Trung Đông. Sau này, khi các nước phương Tây biết thêm nhiều vùng văn hóa khác ở phía Đông, vì các vùng văn hóa này không có nhiều tương đồng với nhau, người ta tiếp tục dùng cụm từ “Đông phương học” (Oriental studies) để chỉ việc nghiên cứu về khu vực Trung Đông, và dùng cụm từ “Châu Á học” (Asian studies) để chỉ việc nghiên cứu về các khu vực khác của châu Á. Hầu hết nội dung giảng dạy của khoa Đông phương học của trường Nhân văn có thể xem là thuộc ngành “Đông Á học” (East Asia studies) trong ngôn ngữ phương Tây. Như vậy, nội dung giảng dạy trong khoa Đông phương học của trường Nhân văn có thể không liên quan đến ngành Đông phương học trong quan niệm của quốc tế.

Cũng cần lưu ý rằng trong khi phương Tây đã phát triển ngành “Đông phương học” và “Châu Á học” để tìm hiểu các nền văn hóa khác biệt với mình, nhằm khai thác một cách hiệu quả sự khác biệt giữa hai bên cho mục đích thương mại, chính trị, học thuật, quân sự…, thì việc thành lập khoa “Đông phương học” ở trường Nhân văn chắc chắn bao gồm những dụng ý khác. Nhìn trọng tâm nghiên cứu của ông Phan Huy Lê, các chương trình hợp tác giữa khoa “Đông phương học” của trường Nhân văn với các cơ quan nước ngoài, và danh mục việc làm của sinh viên khoa này khi ra trường, có thể thấy ông Lê và các cộng sự muốn lập khoa “Đông phương học” trên nền tảng một “bản sắc chung” nào đó của “phương Đông”, và dùng “bản sắc chung” này làm một tiền đề để tiến hành hoạt động ngoại giao với các nước khác trong khu vực châu Á.

Việc ông Lê thành lập khoa Đông phương học và giữ vị trí lãnh đạo của khoa này trong nhiều năm có thể được xem là một nước cờ thông minh về mặt chính trị. Do mục đích đối ngoại vừa nêu, khoa Đông phương học của trường Nhân văn đã có đặt quan hệ hợp tác với một lượng lớn các trường đại học, cơ quan văn hóa và quỹ văn hóa của các nước trong khu vực châu Á. Nhờ những mối quan hệ này, ông Lê cung cấp được cho sinh viên và các cộng sự của mình một lượng lớn cơ hội du học, nghiên cứu, hợp tác dịch thuật, xuất bản sách ở nước ngoài, hoặc xin việc trong ngành ngoại giao và du lịch của Việt Nam. Trong nền học thuật Việt Nam, các nhóm lợi ích thường hình thành từ mối quan hệ thầy – trò trong các trường đại học và viện nghiên cứu, dựa trên việc các thầy và cán bộ viện chi phối mọi cơ hội học tập, nghiên cứu, thi cử, thăng tiến và xuất bản của sinh viên/nghiên cứu sinh. Do đó, khoa Đông phương học của ông Lê có lẽ đã mang lại nhiều nguồn lợi cho những nhóm lợi ích mà ông tham gia và đóng vai trò quan trọng.

Việc ông Lê thành lập Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu Việt Nam, sau đổi tên thành Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, cũng sẽ mang lại cho nhóm ông những nguồn lợi ngoại giao tương tự. Ngoài ra, tên gọi và tính chất của viện này cũng giúp nhóm ông Lê bành trướng tầm ảnh hưởng của mình, để trong mảng nghiên cứu về lịch sử, văn hóa Việt Nam, họ không chỉ là tiếng nói chính thống ở Việt Nam, mà còn cả trên thế giới.

Cũng có nhiều dấu hiệu khác cho thấy ông Phan Huy Lê đã thật sự sử dụng những phương thức kể trên để xây dựng một nhóm lợi ích trong thực tế. Chẳng hạn, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Phương Thảo, con gái ông Lê, là Giám đốc Trung tâm Liên Văn hóa – Lịch sử của trường Nhân văn. Ngoài ra, trong một bình luận trên blog Xuân Diện, ông Hà Văn Thịnh thuộc khoa Sử, Đại học Huế cho biết ông cố tình tránh mặt khi ông Lê đến thăm khoa, vì ông Lê “chịu trách nhiệm chính trong việc phong quá nhiều Phó Giáo sư, Tiến sĩ rởm”.



III. Các phát ngôn có tác động đến chính trị



1. Bài “Vấn đề dân chủ trong truyền thống Việt Nam”, đăng trên tạp chí Tổ quốc năm 1988

Trong thập niên 1980, ông Nguyễn Hiến Lê là một trong số 10 thành viên Hội đồng Biên tập của tạp chí Tổ quốc, một tờ tạp chí của giới trí thức Việt Nam. Hội đồng này do nhà vật lý khí tượng Nguyễn Xiển làm Chủ tịch, và cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Hoàng Minh Giám làm Phó Chủ tịch.

Hai ông Nguyễn Xiển và Hoàng Minh Giám là những cộng sự lâu năm của nhau, đồng thời là cộng sự thân thiết của hai ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp.

Cụ thể, năm 1935, Hoàng Minh Giám là một trong những người sáng lập trường tư thục Thăng Long, mà ông Giáp có một thời gian tham gia dạy học.

Năm 1946, đảng Lao động Việt Nam phải cạnh tranh với Việt Nam Quốc dân đảng trong cuộc bầu cử quốc hội đầu tiên. Trước tình hình này, ông Phan Tư Nghĩa – người cùng Hoàng Minh Giám và Võ Nguyên Giáp lập chi nhánh của đảng Xã hội Pháp ở Đông Dương năm 1937, gia nhập đảng Cộng sản Đông Dương năm 1938, và tham gia Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Marx ở Đông Dương vào năm 1945 – đã cùng ông Nguyễn Xiển thành lập đảng Xã hội Việt Nam, để tập hợp giới trí thức Việt Nam, rồi đứng cùng đảng Lao động Việt Nam trong khối cánh tả. Ông Hoàng Minh Giám, khi đó đang giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ, và vừa trực tiếp giúp việc cho ông Hồ Chí Minh trong cuộc đàm phán về Hiệp định Sơ bộ với chính phủ Pháp hồi tháng 3, cũng tham gia đảng này. Ông Võ Nguyên Giáp là người bảo trợ chính trị của đảng. Đảng này tự nhận là hậu duệ của chi nhánh đảng Xã hội Pháp mà Phan Tư Nghĩa, Hoàng Minh Giám và Võ Nguyên Giáp lập ra từ năm 1937. Tuy nhiên, trong đảng cũng có nhiều thành viên cũ của đảng Cộng sản Đông Dương, khi đó vừa tuyên bố tự giải tán. Từ năm 1956 đến năm 1988, ông Nguyễn Xiển giữ chức Tổng Thư ký, trong khi Hoàng Minh Giám giữ chức Phó Tổng Thư ký đảng này. Khi trào lưu đa nguyên đa đảng nảy nở ở Đông Âu, ngày 22 tháng 7 năm 1988, đảng Xã hội Việt Nam tuyên bố tự giải tán với lý do “đã kết thúc sứ mệnh lịch sử”.

Trong năm 1988, khi vấn đề dân chủ đang được thảo luận một cách sôi nổi ở Việt Nam, tạp chí Tổ quốc đăng một bài của Phan Huy Lê, mang tên “Vấn đề dân chủ trong truyền thống Việt Nam” (7). Trong bài này, ông Lê đưa ra các dữ kiện để tìm cách kết nối ba thứ không mấy liên quan lại với nhau: cụm từ “dân chủ” đang được dư luận quan tâm, lối sống “phép vua thua lệ làng” ở các vùng nông thôn miền Bắc Việt Nam, và nền “dân chủ” Xã hội Chủ nghĩa. Cần lưu ý rằng trong suốt bài viết, ông Lê không hề đưa ra một định nghĩa cụ thể cho khái niệm “dân chủ” mà ông dùng. Vì vậy, dù Phan Huy Lê cố chứng minh rằng ba thứ “dân chủ” kể trên có mối quan hệ lịch sử với nhau, trong thực tế ông không hề làm được điều đó. Vì vậy, có thể nói rằng trong bài viết này, ông Lê chỉ mượn vấn đề “dân chủ” làng xã để xoa dịu hai phe đang xung đột, là phe “dân chủ” xã hội chủ nghĩa và phe “dân chủ” đa đảng đang được khuyến khích bởi Đông Âu. Đồng thời, ngọn cờ “dân chủ” làng xã mà ông đưa ra cũng có thể cung cấp cho cả hai phe nêu trên một tính chính đáng chung về mặt truyền thống dân tộc. Đây là một tính toán chính trị khôn khéo: dù phe nào thắng trong cuộc xung đột, hay hai phe sẽ bắt tay hòa giải để tìm một giải pháp trung lập, thì ông Lê cũng được hệ thống mới ghi công.

Như vậy, qua sự kiện này, có thể thấy các phát ngôn và kết luận về lịch sử của Phan Huy Lê có thể lệ thuộc rất nhiều vào mục đích chính trị giai đoạn mà ông đang theo đuổi. Những mục đích giai đoạn này thường gắn với lợi ích cá nhân của ông hơn là một lý tưởng chính trị nào đó. Ông Lê cũng không phải là một người can đảm: khi cơ hội đến, thay vì dứt khoát chọn một phe, ông có khuynh hướng đi hai hàng để trục lợi từ mọi tình huống có thể phát sinh.



2. Tham gia Viện Nghiên cứu và Phát triển (IDS)

Phan Huy Lê là một trong số 9 người tham gia sáng lập Viện IDS vào ngày 27 tháng 9 năm 2007. Tuy nhiên, kể từ đó cho đến khi viện này tuyên bố “tự giải thể”, ông hầu như chỉ tham gia ký tên trong các bản tuyên bố của chung của các thành viên viện. Ông không đứng tên chính trong các công trình nghiên cứu mà viện thực hiện, cũng như các seminar mà viện tổ chức đều đặn khoảng hai tuần một lần. Ông cũng vắng mặt trong cuộc họp mặt kỷ niệm 1 năm ngày Viện IDS giải thể (8).



3. Tuyên bố rằng nhân vật “anh hùng Lê Văn Tám” không có thật

Trong một cuộc phỏng vấn trên báo Người Việt, số ra ngày 19 tháng 3 năm 2005, ông Phan Huy Lê lần đầu tiên tuyên bố rằng nhân vật “anh hùng Lê Văn Tám” là không có thật. Cụ thể, theo lời ông Lê, thì khi kho xăng Thị Nghè bị đốt vào ngày 17 tháng 10 năm 1945, ông Trần Huy Liệu đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền trong chính phủ. Vì không biết ai là người tổ chức và thực hiện vụ đốt kho xăng này, ông Liệu đã “dựng” lên nhân vật anh hùng Lê Văn Tám – một thiếu niên tự tẩm xăng vào người, châm lửa làm đuốc sống, rồi lao mình vào đốt kho xăng. Đầu thập niên 1960, trong một lần làm việc chung, ông Liệu (đang giữ chức Viện trưởng Viện Sử học) đã thừa nhận với ông Lê việc đó. Bài phỏng vấn ông Lê còn có đoạn:

“GS Trần Huy Liệu còn cho biết là sau khi ta phát tin này thì đài BBC đưa tin ngay, và hôm sau bình luận: Một cậu bé tẩm xăng vào người rồi tự đốt cháy thì sẽ gục ngay tại chỗ, hay nhiều lắm là chỉ lảo đảo được mấy bước, không thể chạy được mấy chục mét đến kho xăng. GS đã tự trách là vì thiếu cân nhắc về khoa học nên có chỗ chưa hợp lý. Ðây là ý kiến của GS Trần Huy Liệu mà sau này tôi có trao đổi với vài bác sĩ để xác nhận thêm.”

Bốn năm sau, ông Phan Huy Lê một lần nữa nhắc lại việc này trên tạp chí Xưa & Nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, số ra tháng 10 năm 2009. Cần lưu ý rằng ông Lê đã giữ chức Chủ tịch của hội này trong 5 nhiệm kỳ liên tục, từ năm 1990 đến năm 2015.

Trong cả hai lần vừa nêu, tuyên bố của ông Phan Huy Lê đều được nhiều website chống Cộng trong và ngoài nước dẫn lại, để làm bằng chứng khẳng định rằng hệ thống tuyên truyền của chính quyền Việt Nam đã bịa đặt lịch sử.

Tuy nhiên, truyện kể của ông Lê cũng đã gặp nhiều phản bác. Trong số này, đáng kể nhất là bài “Về cây đuốc sống Lê Văn Tám” của ông Trần Trọng Tân, cựu Trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Thành ủy Sài Gòn, đăng trên báo Sài Gòn Giải phóng số ra ngày 16 tháng 10 năm 2008. Trong bài, ông Tân dẫn ra một số tài liệu gốc, là những bài báo tường thuật về vụ Lê Văn Tám được viết trong tháng 10 năm 1945, để bác bỏ lời ông Lê. Theo những tài liệu này, thì ngày 17 tháng 10 năm 1945, nhận chỉ đạo của ông Lê Văn Châu, thiếu niên Lê Văn Tám đã dùng xăng đốt kho đạn Thị Nghè. Do kho đạn nổ, Tám bị dính xăng, bắt lửa và “bốc cháy như một cây đuốc sống”. Như vậy, theo các tài liệu gốc, thì Lê Văn Tám bị biến thành “đuốc sống” là do tai nạn, chứ không phải vì cố tình tẩm xăng vào người rồi đốt như dị bản truyện phổ biến sau này, hay như truyện kể của ông Phan Huy Lê.

Ngày 4 tháng 12 năm 2015, trên tuần báo Văn nghệ TP.HCM, ông Lý Châu Hoán cũng dẫn một số tài liệu gốc khác, cùng lời kể của nhiều nhân chứng liên quan, để đi đến kết luận tương tự. Ông Hoán là cựu Bí thư Đảng ủy Bộ Văn hóa, Thông tin và Du lịch ở TP.HCM. Đầu bài viết của mình, ông Hoán cũng đề cập đến ông Trần Hữu Phước, cựu Giám đốc Văn phòng Đại diện Bộ Văn hóa – Thông tin, trong một chi tiết bài dường như không cần thiết.

Sau bài của ông Lý Châu Hoán, vụ Lê Văn Tám không còn được ông Phan Huy Lê nhắc lại.



4. Cuộc đấu tố xoay quanh bộ sách “Lịch sử Việt Nam” trong năm 2017

Như mục trên đã đề cập, trong suốt sự nghiệp của mình, ông Phan Huy Lê đã liên tục là nhà sử quan chính thống quan trọng nhất của nhà nước Việt Nam. Để giữ chắc vai trò này, trong hầu hết sự nghiệp, ông Lê cũng luôn ngoan ngoãn tuân thủ các lề luật chính thống. Trong bài “Sử liệu quốc nội và nền sử học dân tộc chủ nghĩa Việt Nam”, Tạ Chí Đại Trường trích lời ông Cao Tự Thanh, kể về việc Phan Huy Lê “đã kê khai chi tiết công tội của Phan Thanh Giản theo hệ thống dựng nước và giữ nước như một báo cáo ưu khuyết điểm để trình lên Ban Bí thư”. Tuy nhiên, đầu năm 2017, Phan Huy Lê bất ngờ tuyên bố một quan điểm mới về việc chép sử, khá khác biệt so với quan điểm của chính ông trước đó.

Sáng ngày 22 tháng 2 năm 2017, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức một buổi hội thảo mang tên “Một số thành tựu trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam” (12). Trong sự kiện này, ông Phan Huy Lê là diễn giả chính. Ông Lê và các cộng sự đã đã trình bày hai nội dung quan trọng, là “quan điểm lịch sử mới” của nhóm ông Lê, và việc biên soạn bộ “Lịch sử Việt Nam” gồm 30 cuốn, dựa trên quan điểm mới này.

Về nội dung đầu tiên, bài tường thuật trên báo Người Lao động có đoạn (13):

“GS Phan Huy Lê đã trình bày quan điểm mới về phương pháp nghiên cứu lịch sử nước ta – điều mà bấy lâu nay khoa học lịch sử chưa làm được, khi mà lịch sử nước ta chủ yếu được ghi chép bởi các vương triều, các nhà viết sử thuộc các triều đại, với cái nhìn quan phương, chưa khách quan.

Đây là một tín hiệu rất đáng mừng để lịch sử nước ta được nghiên cứu một cách khách quan, khoa học tất cả sự kiện, kể cả các sự kiện, vấn đề “nhạy cảm”.

Quan điểm mà GS Phan Huy Lê trình bày rất rõ ràng khi nhấn mạnh: “Sử học phải làm tròn trách nhiệm công dân nhưng sứ mạng cao cả nhất của sử học là làm thế nào để tạo nên được những trang sử bằng cứ liệu lịch sử khách quan, trung thực”.

Theo GS Phan Huy Lê, để san lấp các khoảng trống lịch sử, cần xác lập một quan điểm, nhận thức mới về lịch sử Việt Nam. “Một quan điểm gần như tất cả quốc gia trên thế giới đều thừa nhận, đó là lịch sử của bất cứ quốc gia, dân tộc nào cũng đều xuất phát từ lãnh thổ hiện nay để viết sử” – GS Phan Huy Lê khẳng định. Ông nhấn mạnh tất cả những gì diễn ra trên lãnh thổ này, kể cả đất liền, hải đảo và hải phận, đều là một bộ phận của lịch sử và văn hóa Việt Nam.

Với quan điểm đó, những khoảng trống lịch sử sẽ được lấp đầy, như việc đánh giá nhà Nguyễn chẳng hạn. Trên cơ sở đó, các nhà nghiên cứu lịch sử mới có cơ hội trình bày một cách có hệ thống những vương quốc đã tồn tại ở Nam Trung Bộ, Nam Bộ như vương quốc Chăm Pa, Phù Nam, Chân Lạp, khu vực Tây Nguyên và cả chính thể Việt Nam cộng hòa thời chống Mỹ cứu nước.

Quan điểm mới này mở đường cho việc đánh giá, nhìn nhận một cách khách quan công – tội của vương triều nhà Nguyễn và cả lịch sử nhà Nguyễn Quang Trung – Nguyễn Huệ.

Cũng tại buổi báo cáo này, PGS-TS Trần Đức Cường, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, nêu trăn trở nhiều vấn đề ở thời hiện đại như cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm, hợp tác hóa nông nghiệp… Ông Cường muốn các nhà viết sử, các nhà nghiên cứu cần có điều kiện đọc được nhiều tài liệu chính thống về các vấn đề được cho là “nhạy cảm” này để có cái nhìn khách quan. Thực ra, dòng nghiên cứu phi chính thống cũng đã nghiên cứu các vấn đề “nhạy cảm”, như vụ nhân văn giai phẩm, cải cách ruộng đất… Ngay cả 2 cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc và Tây Nam cũng rất cần nghiên cứu một cách hệ thống và khoa học”. (hết trích)

Sau khi trình bày “quan điểm lịch sử mới” của nhóm mình, ông Phan Huy Lê cho biết Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam của ông đã trình lên Chính phủ và Ban Bí thư một dự án mới, là nghiên cứu biên soạn bộ “Lịch sử Việt Nam” gồm 30 cuốn. Bộ sử này sẽ “tích hợp tất cả các quan điểm sử học trong và ngoài nước, thể hiện tầm quốc gia những quan điểm chính thức của Việt Nam”. Ông Lê cũng công khai thể hiện tham vọng của mình, khi tuyên bố rằng đây sẽ là “bộ sử gốc” của Việt Nam. Dự án này đã được duyệt, và do Bộ Khoa học & Công nghệ chủ trì tổ chức.

Nếu ông Phan Huy Lê và các cộng sự thật sự định viết một bộ sử khách quan, không bị bóp méo bởi bất cứ mục đích chính trị ngắn hạn và vị kỉ nào, thì đó là một dự định đáng tự hào và đáng được khích lệ. Rất tiếc, đó lại không phải là dự định của nhóm ông Lê. Trong buổi hội thảo, ông Lê cho biết cả bộ “quốc sử” lẫn “quan điểm chính trị mới” của ông và các cộng sự đều xuất phát từ một mục đích chính trị ngắn hạn, là đòi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (14):

“Bộ quốc sử đang được kỳ vọng ấy xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam trong nhiều thập kỷ gần đây. Đó là lịch sử biên giới Việt – Trung, Việt – Lào, Việt – Campuchia, nghiên cứu Biển Đông và chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Theo GS Phan Huy Lê, nếu xác lập quan điểm lịch sử mới, chúng ta sẽ tìm được giải pháp xuyên suốt cho vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng đất Nam Bộ. Đặc biệt, những nghiên cứu mới về lịch sử sẽ vừa phản ánh thực tế lịch sử, vừa thể hiện sự khách quan và là căn cứ pháp lý trọng yếu để khẳng định chủ quyền Việt Nam cả trên đất liền và trên biển đảo”.

Như vậy, chắc chắn bộ “quốc sử” mới của nhóm ông Lê sẽ không bao gồm những dữ kiện gây bất lợi cho việc đòi biển đảo, hoặc gây bất lợi cho những mục đích chính trị khác của nhóm ông Lê, mà ông không nói ra. Một nửa sự thật thì vẫn là một lời nói dối. Ở đây, cần nhấn mạnh rằng ông Lê đã nhân danh sự thật để nói dối, để vừa đạt được mục đích chính trị, vừa được cái tiếng là trung thực, khách quan.

Tròn một tháng sau buổi hội thảo trên, “quan điểm lịch sử mới” của nhóm Phan Huy Lê đã phải hứng chịu một đợt công kích dữ dội. Tuy nhiên, sự công kích không đến từ những người tôn trọng sự thật, mà đến từ những người nói dối khác, có lợi ích chính trị mâu thuẫn với lợi ích của nhóm ông Lê. Một lần nữa, ông Lê lại bị đấu tố trên tuần báo Văn nghệ TP.HCM, tờ báo từng đấu tố ông trong vụ Lê Văn Tám trước đây. Trong bài (15), tác giả chủ yếu tố ông Lê về việc ông định “lấp đầy” các “khoảng trống lịch sử” liên quan đến nhà Nguyễn và chính thể Việt Nam Cộng hòa cũ. Bài đấu tố này đưa ra một “quan điểm lịch sử” khá thú vị, với những đoạn như sau:

“Trước hết, hãy nói về khách quan, trung thực. GS. Lê viết:

‘Sử học đành rằng phải làm tròn trách nhiệm công dân nhưng sứ mệnh cao cả nhất của sử học là làm thế nào để tạo nên được những trang sử bằng cứ liệu lịch sử khách quan trung thực’.

Trung thực khách quan trong sử học là như thế nào? Nếu không có một quan điểm cơ bản làm nền tảng thì làm sao phân biệt được các cứ liệu lịch sử? Làm sao khách quan? (…) Quan điểm cơ bản của sử học Việt Nam từ trước đến nay, hiện nay và trong tương lai là như thế nào?

(…) Bản chất xuyên suốt của lịch sử Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước là chống ngoại xâm, giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc. Không có gì quí hơn độc lập tự do. Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ (Hồ Chí Minh). Đó vừa là bản chất, vừa là quan điểm cơ bản nhất để nghiên cứu lịch sử, viết lịch sử”.

“Chúng tôi nghĩ rằng nghiên cứu lịch sử Việt Nam phải lấy tính nhân văn, tính dân tộc làm quan điểm cơ bản”.

“Tại Hội nghị Sử học vừa rồi, nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy viên Bộ Chính trị – Trưởng Ban Tuyên giáo Võ Văn Thưởng đã nói: … nhìn vào lịch sử để nhận ra bài học về xây dựng và bảo vệ đất nước (Báo đã dẫn. Tr.17). Đó là quan điểm hoàn toàn đúng đắn đến độ chính xác, không chỉ cho hôm nay mà là xuyên suốt, không chỉ cho sử học mà cho toàn bộ khoa học xã hội và nhân văn, cho toàn bộ hoạt động văn hóa – tư tưởng.

Hình như GS lẩn tránh điều này khi nói đành rằng sử học phải có trách nhiệm công dân nhưng cao hơn là tạo dựng nên được những trang sử bằng cứ liệu lịch sử…

Thưa Giáo sư, chúng tôi nghĩ rằng bản chất của sử học, sứ mệnh cao cả của sử học là rút ra được những kinh nghiệm sống – kinh nghiệm tồn tại và phát triển – của một cộng đồng quốc gia dân tộc. Nó cao cả, cấp thiết hơn là tạo dựng nên những trang sử. Sử học đâu phải chỗ chuyên chú vào chữ nghĩa, sách vở, cứ liệu sử liệu này kia, vào tài rậm lời khua bút… Chỗ này, lịch sử cũng phải như văn chương: có thứ đáng thờ và có thứ không đáng thờ. Sử học đáng thờ là sử học chuyên chú vào con người, vào quốc gia dân tộc trên con đường khó khăn gian khổ giành lại quyền sống, quyền làm người… Còn sử học không đáng thờ là thứ sử học chỉ chuyên chú vào bút mực, tạo dựng lại lịch sử hiện thực bằng lịch sử văn bản… Dù có thật như đếm thì cũng chỉ là thứ mô tả biên niên ngày ấy, giờ ấy, chỗ ấy, người ấy, có sự… ấy! Ấy đấy! Ấy đấy!” (hết trích)

Nói tóm lại, theo bài đánh nhóm Phan Huy Lê trên tuần báo Văn nghệ TP.HCM, thì thứ lịch sử “trung thực, khách quan” là thứ lịch sử có ích cho việc chống ngoại xâm. Lịch sử cũng phải như văn chương, nghĩa là phải được sáng tác. Lịch sử cũng phải như các văn bản tôn giáo, nghĩa là để phục vụ mục đích thờ phụng. Nếu sự thật không phục vụ mục đích thờ phụng, không có ích cho việc chống ngoại xâm, thì sự thật không có ý nghĩa, và không đáng được bảo vệ.

Nhắc lại, vì ông Phan Huy Lê chỉ soạn bộ sử mới vì những mục đích chính trị cụ thể và có tính nhất thời, thực ra cách nghĩ và động lực thúc đẩy của ông Lê và những người đấu tố ông không khác nhau, họ chỉ đối chọi nhau về mặt lợi ích.

Ngày 18 tháng 8 năm 2017, Viện Sử học tái bản bộ sách “Lịch sử Việt Nam” gồm 15 quyển, do ông Trần Đức Cường, cựu Viện trưởng Viện Sử học và Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam làm tổng chủ biên.

Khi trả lời phỏng vấn trong buổi ra mắt sách (17), ông Cường cho biết cuốn sử vừa tái bản này có nhiều điểm mới. Cụ thể, sách sẽ đề cập nhiều hơn đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân Việt Nam thuộc các vùng miền, sắc tộc khác nhau trong suốt dòng lịch sử, thay vì chỉ tập trung trình bày chuyện chính biến cung đình và các cuộc chiến tranh của người Kinh, như thông lệ lâu nay trong các cuốn sử chính thống. Sách cũng “nhìn rõ hơn những điểm mờ trong lịch sử” như nhà Mạc, chúa Nguyễn, nhà Nguyễn, cuộc Cải cách Ruộng đất và chiến trang biên giới Việt – Trung. Ngoài ra, ông Cường cũng công khai tỏ ra nuối tiếc về việc có nhiều sự kiện lịch sử chưa thể đưa vào sách, như phong trào “Nhân văn – Giai phẩm”, vụ “xét lại chống đảng” sau năm 1950, hay vụ Trung Quốc chiếm đảo Gạc Ma năm 1988.

Cuối buổi phỏng vấn, ông Trần Đức Cường cũng cung kính nhắc đến bộ “quốc sử” gồm 30 quyển mà ông Phan Huy Lê đang chủ biên. Ông Cường cho biết ông hy vọng rằng những hạn chế của cuốn “Lịch sử Việt Nam” tái bản lần này, như việc sách chưa mô tả được chi tiết và đầy đủ về đời sống của người dân trong các thời kỳ, có thể được bộ “quốc sử” của ông Lê khắc phục. Như vậy, có thể coi bộ “Lịch sử Việt Nam” tái bản của ông Cường như một đòn thăm dò dư luận, trước khi nhóm Phan Huy Lê – Trần Đức Cường chính thức cho ra mắt bộ “quốc sử” dày gấp đôi.

Xin nhắc lại rằng theo quan điểm của chúng tôi, thì nếu ông Trần Đức Cường thật sự muốn soạn một cuốn sử khách quan, không bị bóp méo bởi các mục đích chính trị, thì dự định của ông rất đáng khuyến khích.

Dù ông Cường có nhắm đến mục đích chính trị nào hay không, thì bộ sử của ông cũng đã gặp xui vì những người có mục đích chính trị. Chỉ hai ngày sau, hôm 20 tháng 8 năm 2017, các ông Nguyễn Nhã và Lê Trung Tĩnh, hai thành viên của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, đã phát biểu trên báo Tuổi trẻ rằng việc “thừa nhận Việt Nam Cộng hòa” là “một bước tiến quan trọng” (18). Hai vị này phát biểu rằng việc công nhận Việt Nam Cộng hòa như một chính thể có chủ quyền của Việt Nam, thay vì gọi nó là “ngụy quân ngụy quyền”, sẽ giúp Việt Nam có thêm căn cứ pháp lý để đòi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Như vậy, họ chỉ lặp lại ý của ông Phan Huy Lê trong buổi hội thảo hồi đầu năm, dù ông Lê không dám nói thẳng ra rằng ông công nhận chính thể Việt Nam Cộng hòa trong cuốn “quốc sử” đang thực hiện. Ngoài ra, ông Nguyễn Nhã cũng cho rằng “công nhận Việt Nam Cộng hòa sẽ tạo sự đoàn kết, hòa hợp hòa giải dân tộc, như ý nguyện lúc sinh thời của Thủ tướng Võ Văn Kiệt”.

Phát biểu của Nguyễn Nhã và Lê Trung Tĩnh lập tức khơi dậy một cuộc đấu tố trên những blog ủng hộ chính quyền Việt Nam. Cuộc đấu tố có lẽ đã khởi đầu bằng bài của Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, cựu Cục trưởng Cục Tuyên huấn Bộ Quốc phòng, viết để yêu cầu Đảng và nước thu hồi bộ sách (19). Trong bài này, ông Tuấn công kích bộ sách “Lịch sử Việt Nam” mới tái bản của ông Trần Đức Cường, và không hề nhắc đến ông Phan Huy Lê. Tuy nhiên, không rõ vì sao khi đăng lại bài của ông Tuấn, các blog khác đều ghi rằng ông Phan Huy Lê là chủ biên của bộ sách. Do nhầm lẫn không rõ vô tình hay cố ý này, toàn bộ chiến dịch đả kích rầm rộ sau đó đều hướng vào ông Phan Huy Lê. Kết quả là ông Nguyễn Thanh Tuấn phải “làm việc” với học trò của ông Lê, và phải “đính chính nhiều lần” trên trang Facebook của mình (20). Tuy nhiên, không dừng ở đó, ông Phan Huy Lê đã gửi thư cho Bộ Quốc phòng, yêu cầu Bộ phải bắt ông Tuấn xóa bài công kích và xin lỗi ông Lê, nếu không ông “sẽ gởi đơn khiếu nại đến Ủy Ban Kiểm tra Trung ương và xúc tiến việc kiện các trang web đã nói xấu, chửi bới ông ra Toà theo Bộ Luật Hình sự” (20). Sau khi ông Tuấn nhờ học trò của ông Lê chuyển lời tự bào chữa của mình, người học trò này nhắn lại rằng ông Lê không những không rút lại lá thư đã gửi Bộ Quốc phòng, mà còn xúc tiến việc kiện ông Tuấn ra tòa. Theo lời người học trò, thì ông Lê muốn kiện ông Tuấn vì dù bài của ông Tuấn không nhắc đến tên Phan Huy Lê, nhưng “bài đó đã khiến cộng đồng mạng đã tập trung lên án, phê phán, chửi rủa ông thậm tệ”.

Cần nhắc lại rằng qua buổi hội thảo được Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức vào ngày 22 tháng 2 năm 2017, có thể thấy ông Phan Huy Lê và ông Trần Đức Cường thuộc cùng một nhóm chép sử, với người đứng đầu là ông Lê. Không chỉ thế, trong buổi hội thảo này, “quan điểm lịch sử mới” của nhóm đã chủ yếu được trình bày bởi ông Lê, còn ông Cường chỉ là người phụ họa. Tuy nhiên, ngay trong buổi hội thảo, ông Lê đã đẩy cho ông Cường nói những mục nhạy cảm nhất về mặt chính trị, để giữ an toàn cho bản thân. Sau đó, đến tháng 8, ông Lê lại đẩy ông Cường ra sách trước mình, rồi làm truyền thông rầm rộ về những vấn đề nhạy cảm mà nhóm chép sử đang đặt ra, để thăm dò trước phản ứng của chính quyền và dư luận. Theo cách này, nếu chính quyền và dư luận có phản ứng bất lợi, thì người phải trả giá sẽ là ông Trần Đức Cường, chứ không phải Phan Huy Lê. Tuy nhiên, trái với dự tính của ông Lê, dường như phe đối địch đã bỏ qua ông Cường, và “chỉ đạo” dư luận chĩa thẳng mọi đòn công kích vào ông Lê, là người thật sự chịu trách nhiệm chính.

Nếu Phan Huy Lê coi trọng sự thật lịch sử hơn những lợi ích của bản thân, thì khi cuộc đấu tố xảy đến, ông phải đứng chung chiến tuyến với ông Trần Đức Cường, là người cộng sự chia sẻ cùng một “quan điểm lịch sử mới” với mình. Tuy nhiên, qua việc ông Lê đòi Bộ Quốc phòng bắt ông Nguyễn Thanh Tuấn rút bài, và việc ông giãy nảy lên rằng mình không liên quan đến bộ sử do Trần Đức Cường chủ biên, có thể thấy ông Lê chỉ muốn đẩy mọi trách nhiệm cho ông Cường, và bỏ chạy khỏi chiến tuyến chung khi cả nhóm bị công kích. Từ đó đến nay (đầu năm 2018), Phan Huy Lê không hề lên tiếng bênh vực Trần Đức Cường, và cũng không còn nhắc đến chuyện phải tôn trọng sự thật lịch sử, hay chép sử phải “trung thực, khách quan”.



IV. Nhận định

Qua các dữ kiện trong bài, có thể phác thảo một chân dung chính trị của Phan Huy Lê với những điểm chính như sau:

Thứ nhất, trong suốt sự nghiệp của mình, ông Lê đã là sử quan chính thống quan trọng nhất của nhà nước Việt Nam. Dựa vào địa vị này, và dựa vào việc ban phát các học hàm, bằng cấp, cơ hội thăng tiến, cơ hội nghiên cứu, du học và hợp tác với nước ngoài cho sinh viên và người dưới quyền, Phan Huy Lê đã xây dựng được một nhóm lợi ích lớn. Cần lưu ý rằng sau tất cả những lần phát ngôn gây sóng gió của Phan Huy Lê, quyền lực của ông vẫn không hề suy giảm. Việc ông liên tục giữ chức Chủ tịch hoặc Chủ tịch Danh dự của Hội Nghiên cứu Lịch sử Việt Nam từ năm 1990 tới nay, việc ông vẫn là tổng chủ biên bộ “quốc sử”, và việc ông vừa nhận giải thưởng Hồ Chí Minh hồi tháng 1 năm 2017 đã cho thấy điều đó.

Thứ hai, khi lịch sử có khả năng chuyển hướng, Phan Huy Lê sẵn sàng nắm bắt các cơ hội chính trị đang đến với ông. Để nắm cơ hội, trước tiên, ông sẽ tỏ ra đứng về phe cấp tiến, để được khen là “trí thức can đảm” hoặc “nhân sĩ yêu nước”. Tuy nhiên, ông sẽ không đưa ra bất cứ lời nói và hành động cụ thể nào cho thấy ông đã thật sự chọn phe, và có thể khiến ông phải chịu trách nhiệm. Bằng việc dùng đi dùng lại thủ thuật này, Phan Huy Lê vừa liên tục giữ được quyền lực thật của mình trong ngành nghiên cứu lích sử và trong trường Nhân văn, vừa thường xuyên được tiếng là sử gia trung thực, khách quan, hay trí thức yêu nước.

Thứ ba, cũng như nhiều “trí thức cấp tiến” khác ở Việt Nam, Phan Huy Lê có một thói xấu, mà cả an ninh lẫn giới chống Cộng thường mô tả là “đẩy giới trẻ ra chết thay cho mình”. Ông Lê sẵn sàng dùng đồng đội để thử phản ứng của dư luận, và bỏ rơi đồng đội khi tình huống bất lợi xảy đến.

Thứ tư, như mọi con người đạo đức giả khác, Phan Huy Lê bị ám ảnh về thanh danh của mình. Có lẽ đây là một điểm yếu của ông Lê, khiến ông có thể bị đánh bại nếu các đối thủ của ông biết tôn trọng sự thật hơn ông.

Giả Nhân

Chú thích:

(1) http://ussh.vnu.edu.vn/d6/vi-VN/news/GSNGND-Phan-Huy-Le-chuyen-gia-hang-dau-ve-Lich-su-Viet-Nam-1-490-12214

(2) http://www.vusta.vn/vi/news/Guong-hoat-dong-KHCN/Hieu-truong-dau-tien-cua-truong-Dai-hoc-Tong-hop-Ha-Noi-GS-Nguy-Nhu-Kontum-56950.html

(3) https://lichsuxahoidansuvietnam.wordpress.com/2018/01/16/ho-so-chu-hao/

(4) http://vnu.edu.vn/eng/inc/print.asp?N6874

(5) http://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/gs-phan-huy-le-nguoi-bi-ep-hoc-su-tro-thanh-su-gia/2016101206121624p1c160.htm

(6) http://ussh.vnu.edu.vn/c3/vi-VN/gioi-thieu-c/Khoa-Dong-phuong-hoc-2-534

(7) http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/story/2006/03/060328_phanhuyle_danchu.shtml

(8) https://www.danluan.org/lien-ket/20100913/cuoc-gap-nhan-tron-mot-nam-vien-ids-tu-giai-the

(9) http://thongtinberlin.de/thoisu/anhhunglevantamkhongcothat.htm

(10) http://tuanbaovannghetphcm.vn/su-that-ve-duoc-song-le-van-tam/

(11) https://xuandienhannom.blogspot.com/2012/03/nhan-dan-la-nguoi-co-quyen-toi-thuong.html

(12) http://nhandan.com.vn/chinhtri/item/32134002-thong-tin-khoa-hoc-%E2%80%9Cmot-so-thanh-tuu-moi-trong-nghien-cuu-lich-su-viet-nam%E2%80%9D.html

(13) http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/lich-su-dan-toc-se-bung-sang-20170225232749633.htm

(14) http://daidoanket.vn/van-hoa/nghien-cuu-toan-bo-lich-su-viet-nam-nhan-thuc-day-du-ve-chu-quyen-lanh-tho-quoc-gia-tintuc358935

(15) http://tuanbaovannghetphcm.vn/giao-su-phan-huy-le-an-chinh-duong-phu/

(16) https://tuoitre.vn/tu-bo-cach-goi-nguy-quan-nguy-quyen-sai-gon-1371412.htm

(17) https://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/tong-chu-bien-bo-su-viet-nam-nhieu-van-de-quan-he-viet-trung-chua-duoc-nhac-den-3629916.html

(18) https://tuoitre.vn/thua-nhan-viet-nam-cong-hoa-la-buoc-tien-quan-trong-1372210.htm

(19) http://www.trelangblog.com/2017/08/bai-gay-bao-mang-trung-tuong-nguyen.html

(20) http://www.thanhnientphcm.com/2017/09/ong-phan-huy-le-doi-kien-trung-tuong-nguyen-thanh-tuan.html

0 nhận xét:

Đăng nhận xét